Trang chủ Sơ đồ web Liên hệ
Skip Navigation LinksSở Tài Chính Hải Dương > Giới thiệu > Kỷ yếu Sở tài chính
Skip navigation links
Giới thiệu
Chức năng , nhiệm vụ
Cơ cấu tổ chức
Kỷ yếu Sở tài chính
Tin tức - Sự kiện
Tin Bộ tài chính
Tin Sở tài chính
Công khai NSNN
Các hướng dẫn chung
Dự toán
Quyết toán
Dịch vụ tài chính
HT QLCL ISO 9001:2008
Thủ tục hành chính
Ứng dụng CNTT
Văn bản pháp quy
Kết luận thanh tra
Thông Tin Đấu Thầu
Thông tin hỗ trợ DN



Kỷ yếu Sở tài chính 
   

SỞ TÀI CHÍNH HẢI DƯƠNG

65 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

( 1945 – 2010)

 

 
 

LỜI NÓI ĐẦU

 

 Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập ngành Tài chính (28/8/1945 - 28/8/2010), Sở Tài chính Hải Dương xuất bản cuốn Kỷ yếu "Sở Tài chính Hải Dương 65 năm xây dựng và phát triển" nhằm giúp các thế hệ cán bộ tài chính hiểu rõ hơn sự phấn đấu, trưởng thành của Sở Tài chính Hải Dương từ khi thành lập đến nay.

 

Cuốn Kỷ yếu giới thiệu sơ lược quá trình hình thành, phát triển của Sở Tài chính qua các thời kỳ gắn với sự phát triển của ngành Tài chính nói chung, giới thiệu một số thông tin về tình hình tài chính địa phương qua các giai đoạn; tổ chức bộ máy các phòng ban, đơn vị; các đồng chí lãnh đạo Ty Tài chính, Sở Tài chính  cùng với tập thể cán bộ công chức, viên chức đương nhiệm; một số nét hoạt động của Cơ quan, các tổ chức Đảng, Đoàn thể những năm gần đây….

               

Nhân dịp này, Sở Tài chính xin chân thành cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân Tỉnh, sự quan tâm của Bộ Tài chính, sự ủng hộ và phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp đã tạo mọi điều kiện để Sở Tài chính vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của ngành đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của địa phương; Cảm ơn các thế hệ cán bộ tài chính, các phòng ban, đơn vị đã quan tâm đóng góp ý kiến và gửi những tư liệu quý để xây dựng cuốn Kỷ yếu.

 

Mặc dù đã rất cố gắng sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn Kỷ yếu nhưng do qua nhiều thời kỳ sáp nhập, chia tách, tái lập tài liệu đã thất lạc, không đầy đủ, thời gian sưu tầm, biên soạn hạn chế nên khó tránh khỏi những sơ sót. Ban biên tập rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để chúng tôi rút kinh nghiệm cho những lần xuất bản sau.  

 

Xin trân trọng cảm ơn.

 

                                                                              

                                                                                                    BAN BIÊN TẬP 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÀNH TÀI CHÍNH HẢI DƯƠNG GÓP PHẦN QUAN TRỌNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH

                                                                         

Đồng chí Bùi Thanh Quyến

Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Hải Dương

 

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhận rõ được vị trí và tầm quan trọng đặc biệt đối với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngày 28/8/1945 Đảng và Nhà nước ta đã quyết định thành lập ngành Tài chính Việt Nam.

Trải qua 65 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành Tài chính cả nước đã góp phần xứng đáng vào những thành tựu của cuộc cách mạng Việt Nam, góp phần củng cố nền độc lập, tự chủ, phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.

Cùng với ngành Tài chính cả nước, đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành Tài chính Hải Dương đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, khắc phục mọi khó khăn, năng động sáng tạo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Hàng năm, số thu ngân sách của tỉnh đều tăng với tốc độ cao, bình quân 10 năm gần đây tăng trên 20%/năm. Năm 1997, năm đầu tái lập tỉnh, thu ngân sách mới đạt 450 tỷ, thì năm 2009 đạt gần 4.200 tỷ đồng, tăng gần 10 lần. Đã làm tốt công tác tham mưu cho tỉnh thực hiện việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, theo hướng giảm dần sự bao cấp từ ngân sách nhà nước, đảm bảo các nhiệm vụ chi thường xuyên; tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, chú trọng sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ và môi trường; đảm bảo an sinh xã hội và từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Chủ động, tích cực trong việc tạo các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo hoạt động chất lượng, hiệu quả đúng pháp luật, thực sự trở thành công cụ quan trọng để điều hành kinh tế, xã hội của địa phương.

Đặc biệt là, những năm gần đây ngành Tài chính đã tích cực đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính, theo cơ chế một cửa và một cửa liên thông. Thường xuyên bồi dưỡng, đào tạo nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần, thái độ, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, nhân viên. Tích cực đầu tư trang thiết bị, điều kiện làm việc, hiện đại hoá công sở, làm tốt công tác thẩm định, xét duyệt hồ sơ, thủ tục, dự án, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc của tổ chức, cá nhân, đến quan hệ giao dịch, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Với những nỗ lực, cố gắng của ngành Tài chính, thời gian qua luôn được đánh giá là đơn vị xuất sắc, đứng trong tốp đầu khối các ngành kinh tế tổng hợp của tỉnh. Nhiều tập thể và cá nhân của ngành đã được Đảng, Nhà nước, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý.

Đảng bộ và nhân dân Hải Dương ghi nhận và biểu dương những đóng góp quan trọng của ngành Tài chính Hải Dương vào thành tựu chung của tỉnh nhà trong 65 năm qua.

Thời gian tới, trong bối cảnh hội nhập và yêu cầu mới về đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhằm thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 15 đề ra, ngành Tài chính Hải Dương có vai trò hết sức quan trọng: Cùng với việc thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình, chú ý làm tốt vai trò quản lý Nhà nước, thực hiện tốt nhiệm vụ thu chi, cân đối ngân sách địa phương đảm bảo bền vững, không ngừng phát triển. Làm tốt vai trò là "công cụ mở đường" để phát triển, chăm lo nuôi dưỡng, động viên, khai thác và quản lý tốt các nguồn lực trong xã hội, phục vụ thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng quá trình phát triển và hội nhập.

Tranh thủ hơn nữa sự chỉ đạo giúp đỡ của ngành dọc cấp trên. Nâng cao năng lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đối với các đơn vị, bộ phận thụ hưởng ngân sách nhà nước, đảm bảo quản lý, sử dụng kinh phí đúng mục đích, hiệu quả, an toàn, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Thường xuyên coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, chính quyền, các tổ chức đoàn thể trong sạch, vững mạnh. Thực hiện tốt cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Phấn đấu giữ vững vị trí tốp đầu của khối thi đua ngành Tài chính Việt Nam.

Với truyền thống và thành tích đạt được trong 65 năm qua, tôi tin tưởng rằng thời gian tới ngành Tài chính Hải Dương sẽ tiếp tục phát triển và giành nhiều thành công mới, góp phần xứng đáng vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng tỉnh Hải Dương ngày càng giàu mạnh văn minh./.

--------***--------

 

TÀI CHÍNH HẢI DƯƠNG  65 NĂM XÂY DỰNG

VÀ PHÁT TRIỂN

 

 

A-      MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH NGÂN SÁCH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY SỞ TÀI CHÍNH QUA CÁC GIAI ĐOẠN

 

I- THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)

 

Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính phủ lâm thời dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp vô vàn khó khăn. Những nhiệm vụ cấp bách về xây dựng chính quyền nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang, chống thù trong giặc ngoài, chống giặc đói, giặc dốt.v.v. đòi hỏi một ngân sách rất lớn. Ngân khố quốc gia lúc đó gần như trống rỗng. Chính phủ đã ban hành một loạt các chính sách, chế độ tài chính mới, đặt cơ sở cho một nền tài chính độc lập, tự chủ, lấy dân làm gốc như:

Sắc lệnh 4/SL tổ chức “Quỹ độc lập” (ngày 4 tháng 9 năm 1945); Sắc lệnh bãi bỏ thuế thân (ngày 7-9-1945); Nghị định giảm 20% thuế điền thổ cho cả nước và miễn hẳn thuế điền thổ cho các vùng mất mùa (ngày 28-10-1945); Năm 1948 và năm 1949 Chính phủ phát hành công phiếu kháng chiến. Năm 1950 phát hành công trái quốc gia, phát động các đợt vận động “Hũ gạo nuôi quân”, “Mùa đông binh sĩ” v.v.. Đầu tháng 5 năm 1949, Chính phủ ban hành Sắc lệnh 36/SL lập “Quỹ tham gia kháng chiến”, tháng 6-1949 ra Sắc lệnh 49/SL ban hành Bộ luật Thuế trực thu, trong đó, sửa đổi biểu thuế sát sinh, thuế thuốc lào, thuế thuốc lá v.v...

Từ năm 1946, hệ thống ngân sách Nhà nước bắt đầu hình thành bao gồm ngân sách nhà nước, ngân sách quốc phòng, ngân sách hoả xa, ngân sách xã, ngân sách ba kỳ, ngân sách Hà Nội và Hải Phòng. Đến năm 1948, hệ thống ngân sách nhà nước tiếp tục hoàn thiện, chỉ còn hai cấp: ngân sách nhà nước và ngân sách xã. Năm 1951, Chính Phủ ban hành các chính sách về thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hoá, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem. Từ đây, chính sách kinh tế - tài chính có bước chuyển hướng mới.

Từ năm 1945, công tác tài chính ở tỉnh Hải Dương phát triển cùng với những thay đổi chung của nền tài chính nước nhà. Ngay trong “Tuần lễ vàng” tháng 9 năm 1945, riêng các huyện Ninh Giang, Gia Lộc, Nam Sách, Kinh Môn, Bình Giang và thị xã Hải Dương đã góp 216 lạng vàng, 711 lạng bạc, 5 tấn đồng và 33 vạn đồng tiền Đông Dương. Tháng 10 năm 1947, nhân dân trong tỉnh ủng hộ 310.000 đồng vào quỹ “Mùa đông binh sĩ”, tháng 7-1948 nhân dân tham gia mua công phiếu kháng chiến được 4 triệu đồng, giữa tháng 9 năm 1950 đóng góp Quỹ nuôi quân được trên 3 triệu đồng.

Cùng với sự phát triển của Tài chính Quốc gia, tài chính Hải Dương cũng đã có những bước trưởng thành nhanh chóng.

Đầu tháng 4 năm 1947, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ II đề ra nhiệm vụ kinh tế và tài chính của địa phương là phải tích cực đánh phá và bao vây kinh tế của địch, đẩy mạnh sản xuất để tự túc về mọi mặt, đặc biệt là ra sức sản xuất nông nghiệp để đảm bảo kháng chiến lâu dài, thực hiện đúng chế độ thu chi về tài chính.

Năm 1947, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh đã thành lập Ty Kinh tài, bước đầu thành lập 2 phòng trực thuộc Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh để theo dõi các khoản thu thuế và cấp phát kinh phí chi tiêu cho các cơ quan hành chính của tỉnh.

Đến năm 1951, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh thành lập Ty Tài chính để giúp Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh thực hiện thống nhất quản lý tài chính, đảm bảo sử dụng hợp lý và tiết kiệm ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh. Bộ máy của Ty Tài chính lúc đó hết sức gọn nhẹ, chỉ có phòng Hành chính, Phòng Thuế nông nghiệp, Phòng Ngân sách và Ban Thanh tra tài chính. Việc thu thuế giai đoạn này do Ty Thuế trực thu, thuộc Bộ Tài chính thực hiện. Từ năm 1952, Ty Thuế trực thu được đổi thành Chi sở Thuế vụ tỉnh.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều biện pháp tăng nguồn thu đã được thực hiện. Ngoài việc phát hành công phiếu, công trái chính phủ và thu một số sắc thuế, việc tổ chức buôn bán hàng hoá giữa vùng tự do và vùng tạm bị chiếm đã được thực hiện để tăng nguồn thu ngân sách, đảm bảo nguồn chi phục vụ kháng chiến.

Năm 1952, tỉnh Hải Dương bắt đầu thực hiện chính sách thuế nông nghiệp mới của Chính phủ, thu gộp cho hai năm 1951 và 1952. Tổng số thuế thu được gồm 6.545,8 tấn thóc, 2.004.668 đồng tiền Đông Dương và 57.214.910 đồng tiền Ngân hàng Việt Nam, đạt 20% - 40% mức Bộ Tài chính giao. Việc thu thuế nông nghiệp lúc này là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp, không chỉ giữa ta và địch, mà còn ngay trong nội bộ nhân dân. Tư tưởng tư lợi, khai man sản lượng, gian lận, trốn thuế và tham ô tiền thuế v.v.. xuất hiện trong một bộ phân nhân dân chậm tiến bộ và một số cán bộ tha hoá.

Giai đoạn này, tỉnh chưa có kho thóc tập trung. Ban đầu, thóc thuế thu được gửi nhờ các hộ nông dân, nhưng đến khi cấp phát cho cán bộ, bộ đội một số hộ lại gây khó khăn, không cho lấy thóc ra. Để khắc phục tình trạng nói trên, tỉnh tiến hành vận động nhân dân đào hầm, đắp ụ ở nhà những nông hộ đáng tin cậy để bảo đảm thóc thuế. Các thôn, xã thuộc khu dân căn cứ du kích và khu du kích thành lập các tổ Hộ lương để kiểm tra và bảo vệ thóc thuế của Nhà nước.

Lúc đầu, thuế sát sinh được giao cho cấp huyện và xã trực tiếp thu. Do trình độ nghiệp vụ non yếu, thiếu tinh thần trách nhiệm của cán bộ cơ sở, tỷ lệ thất thu của Sắc thuế này rất cao. Từ tháng 9-1952, tỉnh cử cán bộ đến các huyện, các chợ lớn hướng dẫn thu thuế sát sinh. Đến cuối năm, các huyện Bình Giang, Gia Lộc, Thanh Miện, Ninh Giang đã thu và nộp vào Ngân hàng được 7.738.350 đồng Ngân hàng Việt Nam và 67.877 đồng tiền Đông Dương. Thuế tem thu được 43.786 kg thóc, 16.721.360 đồng Ngân hàng Việt Nam và 1.437 đồng tiền Đông Dương. Thuế trước bạ thu được 88.985 đồng tiền Đông Dương và 865.320 đồng Ngân hàng Việt Nam.

Tháng 9-1952, Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh quyết định thu thuế công thương nghiệp ở khu căn cứ du kích, gồm phía nam huyện Thanh Miện và các huyện Ninh Giang, Gia Lộc. Ba tháng cuối năm đã thu được ở các huyện nói trên 11.612.148 đồng Ngân hàng Việt Nam và 26.859 đồng tiền Đông Dương.

Hình thức chi ngân sách lúc đó chủ yếu là cấp phát bằng thóc, gạo cho cán bộ, bộ đội. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lương công chức, bộ đội được trả bằng gạo. Mức thấp nhất 35 kg/tháng, mức cao nhất 72 kg/tháng. Vợ công chức được trợ cấp 11 kg gạo/tháng, con dưới 16 tuổi được trợ cấp 5,5 kg gạo/tháng.

Cán bộ, bộ đội được nhận thóc gạo tại các nơi cất giấu thóc thuế ở một số địa phương trong tỉnh. Ban đầu, có rất nhiều loại phiếu xuất kho như: lệnh tạm chi, lệnh phát thóc, lệnh tạm vay, phiếu vận động chiến v.v.. Cấp tỉnh, huyện, xã đều có quyền xuất phiếu lĩnh thóc gạo. Từ tháng 6-1952 tỉnh quy định một loại phiếu xuất kho thống nhất. Căn cứ vào tiêu chuẩn và lệnh xuất kho do Ty Tài chính cấp, các xã tiến hành xuất thóc gạo cho cán bộ, bộ đội. Tổng số thóc được cấp phát năm 1952 từ Quỹ Quốc gia khoảng 3.381 tấn và hỗ trợ các xã 163 tấn.

Từ năm 1953, tỉnh có chủ trương tăng cường quản lý ngân sách, tăng thu, giảm chi, thống nhất quản lý tài chính ở các cấp. Các biện pháp chủ yếu được thực hiện như:

- Đẩy mạnh thu các loại thuế. Ngoài thuế nông nghiệp là nguồn thu chính, cần chống thất thu thuế công thương, quản lý chặt nguồn thu từ chiến lợi phẩm, tài sản tịch thu. Bên cạnh đó thực hiện nghiêm chính sách miễn giảm các sắc thuế đối với nông dân, thương nhân gặp khó khăn, các vùng bị mất mùa do thiên tai, địch hoạ.

- Rà soát, sắp xếp lại biên chế của các cơ quan. Riêng các cơ quan kinh tế - tài chính được tăng biên chế để hoàn thành nhiệm vụ tăng thu, quản lý chi. Các cơ quan khác phải tiến hành giảm biên chế. Đặc biệt, cơ quan Công an và Bưu điện phải tinh giản biên chế, đơn giản bộ máy và thuần khiết nội bộ.

- Xoá bỏ quỹ riêng của các cơ quan, đoàn thể.

- Các xã phải lập kế hoạch ngân sách xã từ tháng 6 hàng năm để tỉnh, huyện có thể nắm được việc chi tiêu của các xã, chống tệ tham ô, lãng phí, thất thoát của công. Các quỹ nhân dân đóng góp do nhân dân tự quản, tự quyết định sử dụng.

                 II- THỜI KỲ KHÔI PHỤC PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG HOÀ BÌNH (1955-1965)

1- Giai đoạn 1955-1960

Sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cùng với các tỉnh miền Bắc, tỉnh Hải Dương bước vào giai đoạn 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957), 3 năm phát triển kinh tế (1958-1960), kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Công tác tài chính lúc này tập trung vào việc đảm bảo thu để chi cho các nhu cầu khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, bình ổn vật giá, khuyến khích sản xuất, khuyến khích các hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, tạo dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu cho khôi phục và phát triển kinh tế lâu dài.

Từ năm 1955, địa phương chuyển hướng từ nền tài chính cung cấp cho chiến tranh là chủ yếu, sang phục vụ cho kiến thiết đất nước. Nguồn thu chuyển dần từ thu thuế nông nghiệp ở nông thôn là chính sang mở rộng thu thuế công thương nghiệp ở khu vực đô thị. Nhu cầu về chi cũng phát triển không ngừng. Ngoài nhu cầu chi hành chính còn phải đáp ứng các khoản chi cho sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp văn hoá – xã hội và các khoản chi mới khác.

Trong giai đoạn này, kinh tế tư nhân còn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh. Kinh tế quốc doanh bước đầu mới được hình thành, còn rất non yếu. Chính sách thuế lúc này được xây dựng trên nguyên tắc khuyến khích phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tạo điều kiện cho kinh tế quốc doanh phát triển. Thuế đánh vào công nghiệp nhẹ hơn vào thương nghiệp; huy động thuế từ các đơn vị quốc doanh và hợp tác xã thấp hơn từ tư doanh. Thuế là công cụ để Nhà nước động viên một phần lợi tức của các tầng lớp nhân dân vào tích luỹ xây dựng đất nước.

Từ năm 1955, nhiều chính sách tài chính mới của Trung ương được ban hành. Chế độ phân cấp tài chính giữa Trung ương và các tỉnh, thành phố được thay thế cho chế độ tài chính thống nhất tập trung trong thời chiến. Trách nhiệm của Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh đối với công tác thu thuế nông nghiệp và công thương nghiệp được tăng cường. Lúc đó ngân sách nhà nước tại địa phương bao gồm ngân sách tỉnh và ngân sách xã. Thu ngân sách địa phương gồm hai nguồn: Thứ nhất là nguồn thu cố định từ thu hồi tài sản, bán hàng hoá tịch thu, khấu hao cơ bản, lợi nhuận xí nghiệp địa phương và thu sự nghiệp như học phí, y tế phí v.v. Thứ hai là nguồn thu điều tiết các loại thuế theo tỷ lệ do Bộ Tài chính quyết định.

Dự toán chi hàng năm do tỉnh chủ động xây dựng trên cơ sở định mức chi thống nhất do Bộ Tài chính quy định, cân đối nguồn thu với các khoản chi tại địa phương. Dự toán ngân sách địa phương do Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ Tài chính phê duyệt, nếu thu không đủ chi thì Trung ương sẽ trợ cấp.

Cũng từ năm 1955, nhiều chính sách thuế được ban hành. Biểu thuế nông nghiệp quy định cho vùng đã hoàn thành cải cách ruộng đất với mức từ 5% đến 35%, vùng chưa tiến hành cải cách ruộng đất từ 5% đến 45%. Mức khởi điểm tính thuế giữ nguyên như năm 1951, từ 61 kg lương thực bình quân cho mỗi nhân khẩu trong nông hộ. Thuế công thương nghiệp bao gồm thuế doanh nghiệp, thuế buôn chuyến, thuế nông nghiệp, thuế lợi tức doanh nghiệp và thuế rượu.

Tập thể cán bộ nhân viên Ty Tài chính Hải Dương năm 1959

 Từ năm 1960, Chi sở Thuế vụ Hải Dương được sáp nhập vào Ty Tài chính. Từ đây Ty Tài chính có nhiệm vụ chỉ đạo việc thu thuế công thương trên địa bàn tỉnh. Thu ngân sách tỉnh năm 1960 đạt 20.346 nghìn đồng, tăng 78,22% so với năm 1955. Trong đó, một số nguồn thu chính như thu từ thuế nông nghiệp đạt 9.481 nghìn đồng, tăng 14,09%; thuế công thương đạt 4.492 nghìn đồng, tăng 54%; thu từ xí nghiệp và sự nghiệp đạt 5.629 nghìn đồng, tăng 2.814,5 lần so với năm 1955.

Tỷ trọng các nguồn thu có sự thay đổi cơ bản. Thu từ các loại thuế giảm từ 99,4% trong tổng số thu năm 1955 xuống còn 68,6% năm 1960. Trong đó, thu thuế công thương giảm từ 26% xuống còn 19,5%; thuế nông nghiệp từ 73,4% giảm xuống còn 47,1%; thu từ xí nghiệp và sự nghiệp tăng nhanh từ 0,08% lên 27,6%. Mức huy động thuế nông nghiệp trước cải cách ruộng đất ở mức 20%, kể cả phụ thu là 24% tổng sản lượng lương thực. Sau cải cách ruộng đất, mức huy động chỉ còn 10%. Mức huy động thuế công thương nghiệp năm 1956 ở mức 7,5% thu nhập quốc dân. 

 Phòng thuế nông nghiệp năm 1957  

 Giai đoạn 1955-1960, thuế nông nghiệp là nguồn thu chủ yếu của ngân sách địa phương, do đó thu thuế nông nghiệp là nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể ở các cấp. Tuy nhiên thất thu thuế ở giai đoạn này còn tương đối phổ biến. Thuế nông nghiệp bị thất thu ngay từ khâu kê khai không chính xác diện tích, sản lượng và diện tích mất mùa do thiên tai. Thuế sát sinh có tỷ lệ thất thu lớn nhất, chủ yếu là do Uỷ ban hành chính các xã không nắm chắc số lượng gia súc bị giết mổ, không có biện pháp tích cực thu. Thuế công thương nghiệp có tỷ lệ thất thu khoảng 50%. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ thuế lúc đó còn rất non kém, dễ bị mua chuộc, chưa kiên quyết đấu tranh chống thất thu thuế.

Tổng chi ngân sách địa phương năm 1960 đạt 7.275 nghìn đồng, tăng 3,02 lần so với năm 1955. Trong đó, các khoản chủ yếu gồm chi kiến thiết kinh tế đạt 1.680 nghìn đồng, tăng 2,75 lần; chi văn hoá - xã hội đạt 2.134 nghìn đồng, tăng 4,52 lần; chi quản lý hành chính đạt 2.134 nghìn đồng, tăng 1,62 lần v.v.

Tỷ lệ các khoản chi ngân sách có sự biến động khá lớn. Chi kiến thiết trong tổng chi chiếm 25,4% năm 1955 giảm xuống còn 22,5% năm 1960; chi văn hoá - xã hội tăng từ 19,6% lên 29,2%; chi quản lý hành chính giảm từ 54,9% xuống còn 30%.

Tuy vậy, công tác tài chính chưa theo kịp nhiệm vụ chính trị, chưa bám sát các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã để giúp đỡ, kiểm tra công tác quản lý kinh tế, tài chính. Công tác quản lý thị trường, giá cả còn bị buông lỏng. Tổ chức tài chính và kế toán ở khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể chưa được quan tâm và tăng cường đúng mức.

 2- Giai đoạn 1961-1965

Nhiệm vụ chính trị của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965 là cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu thực hiện công nghiệp hoá và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Kinh tế quốc doanh đã từng bước chiếm ưu thế trong nền kinh tế địa phương. Nguồn thu từ khu vực quốc doanh dựa chủ yếu vào việc phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành. Kinh tế hợp tác xã mới hình thành, còn non yếu, tiếp tục được sự hỗ trợ của Nhà nước. Trong giai đoạn này, Nhà nước thực hiện điều chỉnh chính sách tài chính một bước rất cơ bản.

Về chế độ thu:

- Áp dụng chế độ thu quốc doanh cho các xí nghiệp quốc doanh thay thu thuế và lợi nhuận trước đây.

- Thực hiện ổn định nghĩa vụ thuế nông nghiệp cho các hợp tác xã và các hộ nông dân cá thể.

- Sửa đổi một số chế độ thu thuế công thương đối với người buôn bán, kinh doanh, hợp tác xã kinh doanh, dịch vụ.

- Sửa đổi chế độ thu thuế sát sinh từ thu theo trọng lượng sang thu theo đầu gia súc đem giết mổ.

Về chế độ chi:

- Củng cố chế độ hạch toán kinh tế, tăng cường quản lý chi tiêu và thực hành tiết kiệm.

- Tâp trung ưu tiên ngân sách cho xây dựng và phát triển kinh tế, trong đó vốn xây dựng cơ bản phải đạt mức 30-40% chi ngân sách.

- Cải tiến quản lý vốn lưu động của xí nghiệp và các ngành kinh tế. Xí nghiệp quốc doanh chỉ được cấp tối đa 70% nhu cầu về vốn lưu động, số còn lại được cấp qua tín dụng ngân hàng.

- Quản lý chặt chẽ chi sự nghiệp kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế và quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở quản lý chặt định mức biên chế, định mức tiền lương và mua sắm trang thiết bị.

Từ năm 1961, công tác tài chính tập trung khai thác các nhân tố tích cực, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng cường tiết kiệm, chống lãng phí.

Tổng thu ngân sách tỉnh năm 1961 đạt 7.131.000 đồng, bằng 100,2% kế hoạch điều chỉnh. Tổng chi ngân sách tỉnh đạt 7.425.500 đồng. Trong đó: chi kiến thiết kinh tế chiếm 39%; chi văn hoá, giáo dục, xã hội chiếm 30%; chi hành chính chiếm 27%; còn lại là chi khác.

  

  Phòng Ngân sách năm 1961  

Từ năm 1962, việc thu chi ngân sách đã được khoán cho các huyện, thị xã để khuyến khích các địa phương đẩy mạnh thu, chủ động và tiết kiệm chi. Riêng thị xã Hải Dương được giao thu thêm thuế thổ trạch. Năm 1962, lần đầu tiên tỉnh Hải Dương đạt được thăng bằng thu chi.

Để hỗ trợ cho công tác quản lý tài chính, quản lý giá cả và thị trường, ngày 02-01-1961 Uỷ ban Hành chính tỉnh có Quyết định số 04-TCCB thành lập Phòng Vật giá, giúp Uỷ ban Hành chính tỉnh trong việc quản lý giá cả ở địa phương. Đến năm 1966 Phòng Vật giá được nâng cấp thành Uỷ ban Vật giá tỉnh.

Tình hình thu chi ngân sách địa phương năm 1965 như sau:

- Tổng thu ngân sách địa phương đạt 22.221.200 đồng, tăng 3,12 lần so với năm 1961. Trong đó: 9,56% từ thu quốc doanh và thuế công doanh; 34,8% từ thu lãi thương nghiệp cấp 2, 12,96% từ thu xí nghiệp địa phương, 3,36% từ thu sự nghiệp, 21,70% từ thuế nông nghiệp, 15,90% từ thuế công thương, còn lại là các khoản thu khác.

- Chi ngân sách tỉnh đạt 16.213.000 đồng, tăng 2,18 lần so với năm 1961. Trong đó: 31,87% chi kiến thiết cơ bản, 5,81% chi vốn lưu động, 3,18% chi vốn dự trữ, 18,15% chi sự nghiệp kiến thiết kinh tế, 22,01% chi sự nghiệp văn hoá – xã hội, 12,28% quản lý hành chính, 4,19% chi quân sự - phòng không và 2,51% chi trợ cấp cho cán bộ xã.

- Cũng như trước đây, ngân sách xã được coi là độc lập với ngân sách nhà nước. Ngân sách xã phục vụ cho hoạt động của chính quyền cấp xã, cải thiện từng bước bộ mặt nông thôn, góp phần đẩy mạnh sản xuất và xây dựng các phong trào ở địa phương. Tổng thu ngân sách xã hàng năm trên địa bàn tỉnh bằng 20-30% tổng thu ngân sách nhà nước tỉnh.

Nguồn thu ngân sách xã bao gồm các khoản: điều tiết 13% từ thuế nông nghiệp, 15% từ thuế sát sinh, toàn bộ lệ phí đò ngang, học phí cấp I, thu phúc lợi trạm xá, y tế dân lập, hoa lợi công điền, công thổ và một phần công trợ của ngân sách tỉnh.

Ngân sách xã được phân bổ cho các khoản chi theo tỷ lệ: 25% chi kiến thiết kinh tế, 55% chi văn hoá – xã hội, 18% chi hành chính, còn lại là các khoản chi khác.

 

III- THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1966-1975)

Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, dùng không quân đánh phá miền Bắc, nền tài chính nước ta một lần nữa phải chuyển hướng từ phục vụ phát triển sang bảo vệ Tổ quốc. Công tác tài chính lúc này vừa phải tăng cường huy động mọi nguồn thu phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, vừa phải hướng vào các nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Chính sách tài chính thời kỳ 1966-1975 có một số điều chỉnh như sau:

- Thuế nông nghiệp tiếp tục được thực hiện như giai đoạn liền kề trước.

- Nhà nước bỏ thuế môn bài, các hộ cá thể và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp chỉ còn nộp thuế doanh nghiệp và thuế lợi tức.

- Tiếp tục phân cấp tài chính cho các địa phương theo hướng tăng cường trách nhiệm của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Sửa đổi cơ cấu thu chi ngân sách xã phù hợp với điều kiện kinh tế hợp tác xã nhằm tăng cường vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh sản xuất, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phát triển văn hoá, y tế, giáo dục và phúc lợi của nhân dân.

Trong giai đoạn này, kinh tế quốc doanh phát triển mạnh, giữ vị trí chi phối nền kinh tế quốc dân. Việc tăng cường quản lý xí nghiệp quốc doanh trở nên hết sức cấp bách. Chính phủ và Bộ Tài chính đã có hàng loạt các chính sách chỉ đạo cải tiến công tác tài chính tại xí nghiệp như:

- Xác định mức doanh lợi xí nghiệp, coi lợi nhuận như một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện chất lượng quản lý; Xây dựng hệ thống giá bán buôn xí nghiệp và mức thu tài chính nhà nước đối với xí nghiệp; Gắn việc hoàn thành kế hoạch nhà nước với việc trích lập 3 quỹ: quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng; Cải tiến chế độ trích nộp và sử dụng vốn khấu hao….

Trong thời gian này, do ảnh hưởng của nền tài chính mang sắc thái thời chiến nên nhiều mặt quản lý bị buông lỏng để lại hậu quả đến nhiều năm sau. Thu từ khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã giảm mạnh. Trong các năm 1966-1967, máy bay Mỹ ném bom các mục tiêu kinh tế - quốc phòng trên địa bàn tỉnh hết sức ác liệt. Sản xuất và đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Công tác tài chính đã kịp thời chuyển hướng phục vụ tích cực cho sản xuất, chiến đấu và ổn định đời sống các tầng lớp nhân dân.

 

  

Phòng Thanh tra Ty Tài chính năm 1964

 

Năm 1967 là năm đầu tiên Chính Phủ phân cấp toàn diện quản lý kinh tế - tài chính cho chính quyền địa phương. Trước tình hình mới, công tác tài chính trên địa bàn tỉnh Hải Dương tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm như sau:

- Tập trung khai thác cao độ các nguồn thu bao gồm các nguồn thu từ nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp trong khu vực nhà nước, hợp tác xã và tư nhân để tăng cường tích luỹ cho ngân sách nhà nước. Đẩy mạnh công tác tài chính, tài vụ trong xí nghiệp, hợp tác xã thuộc mọi ngành kinh tế quốc dân.

- Thực hiện tập trung cân đối chi ngân sách cho các mục tiêu đảm bảo phát triển kinh tế, phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của địch và tăng cường ngân sách cho sự nghiệp văn hoá – xã hội, với phương châm tiết kiệm, đúng chính sách, đúng chế độ, chống tham ô, lãng phí.

- Tăng cường quản lý kinh tế, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra công tác quản lý tài chính ở xí nghiệp, hợp tác xã thuộc các ngành kinh tế quốc dân.

- Đẩy mạnh lãnh đạo công tác tư tưởng, chính trị, cải tiến tổ chức và đẩy mạnh phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước.

Tình hình thu chi ngân sách năm 1967 của tỉnh như sau:

Thu ngân sách tỉnh năm 1967 chỉ bằng 93,10% kế hoạch năm. Tốc độ tăng trưởng chững lại. Nhiều sắc thuế quan trọng như thuế công doanh, thu lãi thương nghiệp, thu xí nghiệp, thuế nông nghiệp giảm từ 2,1% đến 13% so với năm 1966. Tổng thu ngân sách năm 1967 chỉ bằng 85,73% số thu của năm 1966, ảnh hưởng lớn đến cân đối ngân sách địa phương.

Năm 1968, thực hiện Nghị quyết số 504-NQ/TVQH ngày 26-01-1968 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, tỉnh Hải Dương đã hợp nhất với tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng gồm 2 thị xã và 20 huyện.

Từ năm 1970, ngân sách địa phương được bổ sung khoản thu từ khuyến khích giao nộp nông sản, thực phẩm cho Trung ương theo Quyết định số 258-CP ngày 29-12-1969 của Hội đồng Chính phủ. Khoản thu này được tính theo tỷ lệ quy định từ 6% - 45% trên giá chỉ đạo thu mua cho các loại nông sản đã khuyến khích các địa phương đẩy mạnh giao nộp nông sản, thực phẩm cho Nhà nước.

Trong giai đoạn 1968-1975, khoản thu trợ cấp từ ngân sách Trung ương chiếm khoảng 30% thu ngân sách của tỉnh.

Từ năm 1972, việc quản lý ngân sách xã thực hiện theo Điều lệ ngân sách xã được ban hành kèm theo Quyết định số 64-CP ngày 8-4-1972 của Hội đồng Chính phủ. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc quản lý ngân sách xã một cách chính quy, chặt chẽ và hệ thống.

 

Số liệu thu chi ngân sách địa phương năm 1968 và 1975

Đơn vị: 1.000 đồng

STT

Nội dung

Năm 1968

Năm 1975

1

Tổng thu

53.439

83.013

 

Thu quốc doanh, thuế quốc doanh

2.809

2.397

 

Thu xí nghiệp

11.010

29.713

 

Thu sự nghiệp

2.220

1.922

 

Thu tập thể, cá thể

17.274

20.909

 

Thu khác

2.074

1.994

 

Thu do Trung ương trợ cấp

16.996

24.833

 

Thu kết dư

1.056

1.245

2

Tổng chi

51.162

80.343

 

Chi kiến thiết kinh tế

30.694

42.590

 

Chi văn hoá, y tế, giáo dục

14.394

26.483

 

Chi hành chính

4.112

5.549

 

Chi khác

1.962

5.721

 

IV- THỜI KỲ CẢ NƯỚC HOÀ BÌNH THỐNG NHẤT (1976-2005)

1-      Giai đoạn 1976-1985

- Từ năm 1976-1980 ở miền Bắc nói chung và ở Hải Dương nói riêng, cơ bản vẫn thực hiện các chính sách thuế đã được ban hành từ trước năm 1975.

Ngày 25-3-1983, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh sửa đổi chính sách thuế nông nghiệp thống nhất chung cho cả nước..

Trong 5 năm (1976-1980), tỷ lệ điều tiết các khoản thu vào ngân sách nhà nước dành cho ngân sách địa phương bị thay đổi đã tác động mạnh đến tình hình thu chi ngân sách địa phương. Thu ngân sách địa phương giai đoạn 1976-1980 liên tục giảm sút. Tổng thu năm 1980 chỉ còn bằng 78,64% của năm 1976 và bằng 87,62% của năm 1975. Giảm mạnh nhất là thu từ khu vực kinh tế quốc doanh và trợ cấp từ Trung ương. Riêng trợ cấp từ Trung ương giảm nhanh từ 27,1% năm 1976 xuống còn 3,6% năm 1980.

Chi ngân sách địa phương giai đoạn 1976-1980 cũng giảm tương ứng với giảm nguồn thu. Tổng chi năm 1980 chỉ bằng 84,92% của năm 1976 và 99,05% của năm 1975. Tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 1976-1980 của toàn quốc nói chung và của tỉnh Hải Dương nói riêng gặp nhiều khó khăn.

 

Thu chi ngân sách địa phương thời kỳ 1976-1980

                                                                                                             Đơn vị: 1.000 đồng

NỘI DUNG

1976

1977

1978

1979

1980

1. Tổng thu ngân sách địa phương

92.494

84.613

90.142

88.661

72.738

- Thu từ kinh tế quốc doanh

39.952

44.547

44.763

44.279

32.809

- Thu từ khu vực kinh tế tập thể và cá thể

26.487

26.708

31.950

35.048

33.888

- Thu khác

1.061

-

1.490

4.056

3.386

- Thu do Trung ương trợ cấp

24.994

13.358

11.939

5.278

2.655

2. Tổng chi ngân sách địa phương

93.708

82.335

88.881

80.850

79.581

Trong đó:

- Chi cho xây dựng cơ bản

 

38.539

 

32.558

 

28.588

 

21.096

 

29.615

- Chi cho văn hoá - xã hội

33.728

31.710

35.720

32.525

37.719

 

Giai đoạn 1981-1985 chính sách tài chính có một số thay đổi. Ngoài thu quốc doanh, các xí nghiệp quốc doanh còn phải nộp lợi nhuận và thuế môn bài được khôi phục, thuế lợi tức, thuế hàng hóa được điều chỉnh tăng so với trước đây….

Năm 1982, Ty Tài chính đổi thành Sở Tài chính; Phòng thu quốc doanh được nâng cấp thành Chi cục Thu quốc doanh; Phòng thu tập thể, cá thể được nâng cấp thành Chi cục Thuế công thương nghiệp.

Năm 1985, cơ chế quản lý kinh tế của nước ta có bước biến đổi đáng kể. Chế độ quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từng bước được xóa bỏ, chế độ hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, lấy kế hoạch làm trung tâm, bắt đầu được áp dụng.

Ngày 22-6-1985, việc bù giá vào lương bắt đầu được thực hiện trên địa bàn tỉnh. Bước đầu việc bù giá vào lương được thực hiện đối với 9 mặt hàng định lượng và 6 mặt hàng ngoài định lượng cho cán bộ, công nhân viên chức, người ăn theo thuộc khu vực hành chính sự nghiệp, sản xuất kinh doanh, học sinh các trường chuyên nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối tượng về hưu, mất sức, hưởng chế độ trợ cấp.

Suốt thời gian gần 25 năm, từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX đến năm 1985, cán bộ, công nhân viên chức, người ăn theo thuộc khu vực hành chính sự nghiệp, sản xuất kinh doanh, học sinh các trường chuyên nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối tượng về hưu, mất sức hưởng chế độ trợ cấp được mua một số mặt hàng thiết yếu cho đời sống theo định lượng và không theo định lượng với giá quy định theo giá bán cung cấp. Giá này thường thấp hơn giá thực tế trên thị trường, không ít trường hợp còn ít hơn cả giá thành sản xuất sản phẩm đó. Những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu như gạo, thịt, cá, đậu phụ, nước mắm, vải, v.v.. được phân phối thông qua hệ thống tem phiếu rất phức tạp. Những loại tem phiếu này có giá trị như tiền. Hàng năm, Nhà nước phải chi từ ngân sách một khoản khá lớn để bù chênh lệch giá, đồng thời gây nên sự không công bằng rất lớn giữa cán bộ, công nhân viên nhà nước và người dân ngoài hệ thống các cơ quan, xí nghiệp nhà nước; không công bằng trong nội bộ cán bộ, công nhân viên. Để có các mặt hàng nông sản, thực phẩm, nhu yếu phẩm khác bán theo tem phiếu, Nhà nước đã thu mua của nông dân, xí nghiệp, thợ thủ công với giá không đúng với giá trị thực của sản phẩm. Đồng thời, tiền lương, tiền công không phản ánh thu nhập thực tế của cán bộ, công nhân viên và không được tính đủ vào giá thành sản phẩm.

Việc thực hiện bù giá vào lương và đưa lương vào giá thành sản phẩm là một bước chuyển đổi hết sức cơ bản trong hạch toán kinh tế trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

Cùng với việc đổi mới cơ chế, đổi mới quản lý trong khu vực nhà nước, ngày 12-9-1985 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết 41/NQ-TU về “Cải tiến quản lý kinh tế, xóa bỏ quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế phân phối theo lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp” nhằm mở đường cho nông dân tập thể sản xuất theo hướng hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đảm bảo quyền lợi, hiệu quả cho người lao động.

Từ ngày 01-9-1985, cải cách tiền lương cho cán bộ nhân viên cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang được thực hiện trên địa bàn tỉnh. Trong ba ngày từ 14 đến 16-9-1985, việc đổi tiền được thực hiện theo tỷ giá 1 đồng tiền mới đổi lấy 10 đồng tiền cũ.

Đến đây có thể nói việc thực hiện Nghị quyết Trung ương về “giá – lương – tiền” đã cơ bản được thực hiện trên địa bàn tỉnh, thể hiện sự quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hải Dương trong việc kiên quyết xóa bỏ quan liêu bao cấp, chống bảo thủ trì trệ, đổi mới cơ chế quản lý, tiến tới hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa trong mọi hoạt động kinh tế. Sự thay đổi chính sách nói trên đã tác động lớn đến thu chi ngân sách địa phương.

 

Về tổ chức bộ máy Ty Tài chính giai đoạn trước năm 1981 dựa theo sự phát triển của nhiệm vụ từng thời gian có sự thay đổi phù hợp:

* Từ 1960 đến 1964:

          1- Phòng Tổng dự toán; 2- Phòng tài vụ kinh tế kỹ thuật; 3- Phòng Hành chính văn xã; 4- Phòng thuế Nông nghiệp và tài vụ hợp tác xã nông nghiệp; 5- Phòng thu quốc doanh và thuế công thương nghiệp; 6- Phòng Thanh tra; 7- Phòng Hành chính tổ chức; 8- Trường Tài chính;

                * Từ 1965 đến 1981:

1- Phòng Tổng dự toán; 2- Phòng Tài vụ giao thông công thương nghiệp; 3- Phòng Tài vụ nông lâm thuỷ lợi; 4- Phòng Tài vụ hành chính văn xã; 5- Phòng Thuế Nông nghiệp và tài vụ hợp tác xã nông nghiệp; 6- Phòng thu quốc doanh và thuế công thương nghiệp; 7- Phòng Thanh tra; 8- Phòng Tổ chức thi đua; 9- Phòng Tổng hợp; 10- Phòng Hành chính quản trị; 11- Trường Tài chính;

          * Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1985 Ty Tài chính được đổi tên thành Sở Tài chính, tổ chức các phòng ban chuyên môn có sự thay đổi gồm 16 phòng, ban, đơn vị trực thuộc:

         1. Phòng Tổ chức cán bộ và đào tạo; 2- Phòng Hành chính Quản trị; 3- Phòng Tài vụ - Hành chính văn xã; 4- Phòng Nông lâm thuỷ lợi; 5- Phòng Tài vụ giao thông thương nghiệp; 6- Phòng Thuế nông nghiệp và Tài vụ HTXNN; 7- Phòng Kế hoạch tài chính và Quản lý ngân sách; 8- Ban Thanh tra; 9- Phòng Quản lý Xí nghiệp Trung ương; 10- Phòng Tài vụ Công nghiệp xây dựng; 11- Phòng Quản lý vốn XDCB; 12- Phòng Tem phiếu; 13- Phòng Bảo hiểm; 14- Phòng Xổ số kiến thiết; 15- Trường Tài chính; 16- Chi Cục thuế công thương nghiệp.

            

Số liệu thu chi ngân sách địa phương năm 1985

Đơn vị: 1.000 đồng

STT

Khoản thu, chi

Số tiền

 

TỔNG THU

442.094

I

Thu tại địa phương

322.607

1

Thu từ kinh tế quốc doanh

218.992

2

Thu từ kinh tế tập thể và kinh tế cá thể

61.365

3

Thu sự nghiệp và thu khác

39.365

4

Thu kết dư năm trước

2.772

II

Nguồn thu bổ sung

119.600

1

Thu trợ cấp cân đối

67.800

2

Thu khuyến khích giao nộp nông sản

6.800

3

Vốn xây dựng cơ bản tập trung

15.000

4

Vay ngân hàng

30.000

 

TỔNG CHI

434.879

I

Chi đầu tư xây dựng cơ bản

100.709

II

Chi bù giá

67.201

III

Chi thường xuyên

266.969

1

Chi kiến thiết kinh tế

122.004

2

Chi văn hóa – xã hội

94.639

3

Chi quản lý hành chính

25.153

4

Chi khác

25.173

 

Tồn quỹ

7.215

 

2-  Giai đoạn 1986-1996

Những sai lầm nghiêm trọng trong việc thực hiện tổng điều chỉnh giá – lương – tiền tháng 9-1985 đã đẩy nền kinh tế nước ta vào thời kỳ khủng hoảng chưa từng có. Đồng tiền mất giá nhanh chóng. Tỷ lệ lạm phát tăng theo tốc độ phi mã. Chính sách cải cách tiền lương thực hiện không thành công. Việc giao quyền tự chủ trong sản xuất - kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Các mục tiêu đổi mới trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng đã không được thực hiện triệt để.

Trước tình hình đó, tại kỳ họp thứ 4 (tháng 12-1988), Quốc hội khóa VIII đã ra nghị quyết đổi mới chính sách tài chính quốc gia.

Mục tiêu của đổi mới chính sách tài chính là thống nhất ngân sách nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Chế độ phân cấp quản lý ngân sách vừa phải tập trung nguồn thu vào ngân sách nhà nước, vừa phải tạo điều kiện cho các địa phương chủ động bố trí ngân sách phục vụ các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng ở địa phương. Đẩy mạnh thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hạch toán đúng, đủ trong các đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm giải phóng sức sản xuất của các thành phần kinh tế. Từng bước xóa bỏ bù lỗ tràn lan, cấp vốn không ràng buộc với trách nhiệm vật chất và hiệu quả sử dụng vốn. Xây dựng hệ thống luật thuế thống nhất các thành phần kinh tế. Thực hành triệt để tiết kiệm chi trong mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh, gắn liền với sắp xếp lại cơ cấu đầu tư và tổ chức bộ máy nhà nước.

Hệ thống pháp luật thuế mới được ban hành và từng bước hoàn thiện, bao gồm: Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức, Luật thuế nhập khẩu, Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất, Pháp lệnh thuế tài nguyên, Pháp lệnh thuế thu nhập. Ngoài ra, các loại thuế như thuế vốn, thuế thu nhập, thuế nhà đất, thuế môn bài, thuế sát sinh và các loại lệ phí, bao gồm lệ phí chứng thư, lệ phí trước bạ, phí giao thông thủy, bộ, phí tham quan du lịch, cảng phí, viện phí, học phí, thủy lợi phí, v.v..cũng được ban hành. Như vậy, hệ thống chính sách thuế của Nhà nước đã được cải cách một bước rất cơ bản và từng bước hoàn thiện. Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Bộ Tài chính đã điều chỉnh hệ thống các cơ quan tài chính trong nước.

Trên địa bàn tỉnh, năm 1988 Ủy ban Vật giá sát nhập vào Sở Tài chính thành lập Sở Tài chính – Vật giá tỉnh.

Trước đây mọi giao dịch và kiểm soát về thu, chi ngân sách ở các địa phương được thực hiện thông qua hệ thống Ngân hàng Nhà nước. Từ ngày 1/4/1990, hệ thống Kho bạc Nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện chính thức đi vào hoạt động để thực hiện các nhiệm vụ nói trên.

Cũng từ ngày 1/10/1990, chức năng thu thuế tách khỏi Sở Tài chính – Vật giá và các Phòng Tài chính thương nghiệp ở các huyện, thị xã. Cục Thuế tỉnh và Chi cục thuế các huyện, thị xã được thành lập để thực hiện nhiệm vụ quản lý, theo dõi thu các sắc thuế và lệ phí từ các đơn vị sản xuất, kinh doanh, sự nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Ngày 1/1/1995, Cục Đầu tư - Phát triển tỉnh trực thuộc Tổng cục Đầu tư Phát triển (Bộ Tài chính) được thành lập trên cơ sở Phòng Quản lý xây dựng cơ bản của Sở Tài chính - Vật giá và một số bộ phận có liên quan của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh. Từ ngày 01/01/2000, bộ phận cấp phát vốn xây dựng cơ bản và quyết toán dự án xây dựng cơ bản hoàn thành được bàn giao về Sở Tài chính - Vật giá; bộ phận thanh toán vốn xây dựng cơ bản về Kho bạc Nhà nước tỉnh. Quỹ hỗ trợ phát triển được thành lập trên cơ sở các bộ phận còn lại của Cục Đầu tư - Phát triển.

Ngày 28/6/1995, Cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp trực thuộc Tổng cục Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp (Bộ Tài chính) được thành lập trên cơ sở Phòng Quản lý kinh tế quốc doanh của Sở Tài chính - Vật giá. Từ tháng 10/1999 cơ quan này lại được chuyển thành Chi cục Quản lý vốn và tài sản tại doanh nghiệp trực thuộc Sở Tài chính - Vật giá tỉnh.

Ngoài Sở Tài chính - Vật giá là cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực tài chính của Ủy ban nhân dân tỉnh, các tổ chức tài chính khác trực tiếp chịu sự chỉ đạo và quản lý hành chính các cơ quan quản lý chuyên ngành của Trung ương và chịu sự giám sát của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật. Đến thời gian này, hệ thống các tổ chức tài chính chuyên ngành đã được kiện toàn một bước căn bản theo hướng chuyên môn hóa.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành hàng loạt quyết định về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trên địa bàn tỉnh.

Đến cuối năm 1989, trên địa bàn tỉnh đã có trên 7.000 đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

Căn cứ Nghị quyết 03/NQ-TU ngày 28-4-1992 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới tổ chức và quản lý hợp tác xã nông nghiệp, Ủy ban Nhân dân tỉnh có Quyết định số 235/QĐ-UB ngày 25-2-1993 về việc giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân trong toàn tỉnh. Đây là bước ngoặt lớn trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Hải Dương.

Sự quyết tâm chỉ đạo đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã tác động tích cực đến tất cả các thành phần kinh tế, khuyến khích các đơn vị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ và các hộ nông dân đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập và tăng mức đóng góp cho ngân sách nhà nước.

Công tác tài chính của tỉnh tiếp tục được thực hiện theo phương châm thu lấy để chi, tăng thu, tiết kiệm chi; tích cực mở rộng nguồn thu, chống thất thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời. Đồng thời với việc tăng thu, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Chỉ thị số 45/CT-UB ngày 6-10-1988 về việc thực hành tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh, trong xây dựng cơ bản, chi hành chính sự nghiệp v.v..

Trong các năm 1986-1996, thu từ xí nghiệp quốc doanh là nguồn thu chủ yếu của ngân sách tỉnh. Năm 1986 thu từ xí nghiệp quốc doanh chiếm gần 60% nguồn thu của địa phương, năm 1990 tỷ lệ này là 78,1% và năm 1995 còn 68,1%. Trong đó trên 90% thu từ xí nghiệp quốc doanh trung ương. Riêng Nhà máy xi măng Hoàng Thạch trong nhiều năm liên tục luôn đóng góp 30-40% thu ngân sách của tỉnh.

Thuế nông nghiệp (thuế sử dụng đất nông nghiệp) vẫn là nguồn thu quan trọng của ngân sách tỉnh. Tuy vậy, trong 11 năm (1986-1996), tỷ trọng thuế nông nghiệp trong thu ngân sách của tỉnh giảm từ 22,8% xuống còn 13,6%. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh cơ bản đảm bảo chi ngân sách. Chi sự nghiệp kinh tế và chi sự nghiệp văn hóa – xã hội chiếm phần lớn chi ngân sách tỉnh. Trong đó, chi kiến thiết kinh tế chiếm từ 37,2% năm 1986 và 8,8% năm 1996. Chi văn hóa – xã hội chiếm 7,9% năm 1986 và 48,5% năm 1996.

 

* Tổ chức bộ máy Sở Tài chính-Vật giá Hải Hưng bao gồm Ban Giám Đốc Sở và 15 phòng, ban, đơn vị sau:

         1- Phòng Tổ chức cán bộ; 2- Phòng Hành chính Quản trị; 3- Phòng Tài vụ - Hành chính văn xã; 4- Phòng Tài vụ nông lâm thuỷ lợi; 5- Phòng Tài vụ giao thông thương nghiệp; 6- Phòng Thuế nông nghiệp và Tài vụ HTXNN; 7- Phòng Kế hoạch tài chính và Quản lý ngân sách; 8- Ban Thanh tra; 9- Chi cục Thu quốc doanh và quản lý tài chính XN Trung ương; 10- Phòng Tài vụ công nghiệp xây dựng; 11- Phòng Quản lý vốn XDCB; 12- Ban Vật giá; 13- Phòng Xổ số kiến thiết; 14- Trường Tài chính; 15- Chi Cục thuế công thương nghiệp.

        - Từ ngày 01/02/1986 Bảo Hiểm đã tách riêng thành đơn vị độc lập không trực thuộc Sở Tài chính-Vật giá.

 

* Từ 02/10/1990 đến 31/12/1994 các phòng ban đơn vị trực thuộc Sở Tài chính - Vật Giá gồm 9 phòng ban, đơn vị sau:

         1- Phòng Tổ chức cán bộ; 2- Phòng Hành chính Tổng hợp; 3- Phòng Hành chính văn xã; 4- Phòng Tài chính ngành; 5- Ban Vật Giá; 6- Phòng Kế hoạch ngân sách; 7- Phòng Cấp phát vốn XDCB; 8- Thanh tra Sở;  9- Công ty Xổ số kiến thiết.

   

* Từ 01/01/1995 đến 31/12/1996 có 2 bộ phận Phòng Đầu tư XDCB, Tài chính Ngành tách ra thành lập các đơn vị riêng, Sở Tài chính thành lập thêm Phòng Quản lý Ngân sách xã. Các phòng ban đơn vị trực thuộc Sở Tài chính - Vật Giá gồm 9 phòng ban, đơn vị sau:

            1- Phòng Tổ chức - Hành chính; 2- Phòng Tài chính - Hành chính sự nghiệp; 3- Phòng Vật giá; 4- Phòng Kế hoạch ngân sách; 5- Phòng Quản lý Ngân sách xã; 6- Phòng Quản lý Công sản; 7- Thanh tra Sở; 8- Công ty Xổ số kiến thiết.

        

                3- Giai đoạn sau khi tái lập tỉnh (1997-2005)

Từ 01-01-1997 tỉnh Hải Dương được tái lập theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX. Công tác tài chính của tỉnh chuyển sang một giai đoạn mới.

Hệ thống tài chính trên địa bàn tỉnh được kiện toàn.

Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về tài chính bao gồm Sở Tài chính – Vật giá (Từ năm 2003 đổi thành Sở Tài chính), các Phòng tài chính huyện, thành phố và Ban tài chính xã, phường, thị trấn.

Sở Tài chính – Vật giá là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách, giá cả ở địa phương với các nhiệm vụ cụ thể như cân đối thu chi ngân sách địa phương, quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn; quản lý tài chính hành chính sự nghiệp, tài chính đầu tư, tài chính doanh nghiệp, quản lý giá và tài sản công, quản lý công tác kinh doanh phát triển xổ số kiến thiết và các dịch vụ về tư vấn tài sản và thẩm định giá....

Trước đây, Phòng Tài chính huyện, thành phố là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện, thành phố trong lĩnh vực tài chính. Từ năm 2000, sau khi sáp nhập Phòng Kế hoạch vào Phòng Tài chính, bổ sung thêm chức năng quản lý khoa học và công nghệ, đổi tên thành Phòng Kế hoạch – Tài chính – Khoa học. Năm 2005, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban Nhân dân huyện, thành phố được sắp xếp lại theo Nghị định 173/CP…, chức năng quản lý khoa học và công nghệ chuyển về Phòng Công nghiệp và Thương mại, chức năng quản lý tài chính cấp huyện thuộc Phòng Tài chính -Kế hoạch.

Ở cấp xã, công tác quản lý tài chính do Ban Tài chính xã thực hiện.

Các cơ quan thu ngân sách trên địa bàn tỉnh bao gồm hệ thống các cơ quan thuế và Chi cục Hải quan Hải Dương trực thuộc Cục Hải quan Hải Phòng.

Cục Thuế tỉnh là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thuế của Bộ Tài chính, thực hiện chức năng thu các loại thuế, phí và lệ phí trên địa bàn tỉnh. Ở cấp huyện, thành phố có các Chi cục thuế. Ở một số xã, thị trấn có các đội thu thuế. Trong những năm gần đây, Cục Thuế tỉnh tiến hành ủy nhiệm thu một số loại thuế, phí, lệ phí cho chính quyền cấp xã, phường, thị trấn. Từ năm 1997, Chi cục Hải quan Hải Dương thực hiện nhiệm vụ thu các loại thuế xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh.

Cũng từ năm 1998, công tác tài chính ở địa phương hướng mạnh vào việc thực hiện Luật ngân sách nhà nước, chủ động về nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi của địa phương. Thu ngân sách tỉnh năm 2005 tăng trên 5 lần so với năm 1997. Cơ cấu các loại thu có nhiều thay đổi. Trong đó, tỷ trọng thu từ kinh tế trung ương trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1997-2005 từ 49,39% giảm xuống còn 10,6%; thu từ kinh tế địa phương giảm từ 48,77% xuống còn 26,16%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 1,84% lên 27,1%.

Sự thay đổi cơ cấu các nguồn thu thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế từ khi tái lập tỉnh đến nay. Trong đó, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh, số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Các loại thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập, các khoản thu khác v.v.. có tốc độ tăng trưởng khá. Riêng thuế sử dụng đất nông nghiệp giảm mạnh, từ 17,63% thu từ kinh tế địa phương năm 1997 xuống còn 0,28% vào năm 2005, thể hiện chính sách ưu đãi phát triển nông nghiệp, miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp của Nhà nước.

Riêng giai đoạn 2001-2005, thu ngân sách nhà nước tăng theo từng năm. Đặc biệt, năm 2003 thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 1.116 tỷ đồng, lần đầu tiên tỉnh Hải Dương được đứng vào nhóm các tỉnh, thành phố có mức thu ngân sách trên 1.000 tỷ đồng. Mức tăng trưởng thu ngân sách trên địa bàn đạt 35,9%/năm. Trong đó, thu nội địa tăng 30,9%/năm, chiếm khoảng 66,5% tổng thu; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 44,5%/năm, chiếm 33,5% tổng thu ngân sách trên địa bàn. Tỷ lệ huy động từ GDP vào ngân sách nhà nước bình quân hàng năm đạt 14,3% giai đoạn 1996-2000 tỷ lệ này là 10%.

Trong giai đoạn này, thu ngân sách chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các nguồn thu từ sản xuất, kinh doanh tại địa phương, tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp lớn do các Bộ, ngành trung ương quản lý.

Công ty trách nhiệm hữu hạn Ford Việt Nam, Công ty Xi măng Hoàng Thạch, Công ty Điện lực Hải Dương, Bưu điện Hải Dương, v.v..là những doanh nghiệp đứng đầu về nộp thuế nhà nước.

Trong giai đoạn từ 1997 đến 2005, chi ngân sách địa phương tăng hơn 6 lần. Trong đó, chi đầu tư phát triển tăng 15,38 lần, chi thường xuyên tăng 3,6 lần…Chi ngân sách địa phương cơ bản đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Riêng giai đoạn 2001-2005, tổng chi ngân sách địa phương tăng bình quân 27,4%/năm. Trong đó, chi đầu tư phát triển chiếm 27,4% tổng chi và đạt tốc độ tăng trưởng 47,7%/năm. Chi thường xuyên tăng 15,1%/năm.

 

* Về tổ chức bộ máy Sở Tài chính - Vật Giá Hải Dương :

* Từ 1997 đến năm 2000

- Từ 01/01/1997 đến 31/12/2000 tổ chức bộ máy Sở Tài chính - Vật Giá Hải Dương có sự thay đổi. Cục Quản lý vốn và Tài sản nhà nước tại doanh nghiệp sáp nhập vào và chuyển thành Chi cục Tài chính doanh nghiệp (năm 1999). Bộ máy Sở Tài chính gồm Ban Giám Đốc và 11 phòng, ban, đơn vị trực thuộc: 

        1. Phòng Tổ chức - Hành chính; 2- Phòng Tài chính - Hành chính sự nghiệp;         3- Phòng Tài chính - Đầu tư; 4- Phòng Vật Giá; 5- Phòng Kế hoạch ngân sách; 6- Phòng Quản lý Ngân sách xã; 7- Phòng Quản lý Công sản; 8- Thanh tra Sở; 9- Chi cục Tài chính doanh nghiệp; 10- Công ty Xổ số kiến thiết.

                - Từ năm 2001 đến năm 2007: Bộ máy các phòng ban đơn vị có sự thay đổi: Giải thể Phòng Quản lý công sản, chức năng quản lý công sản chuyển về phòng Giá, đổi tên Phòng Vật giá thành phòng Quản lý Giá – Công sản, thành lập Trung Tâm Tư vấn và Dịch vụ Tài chính (Tháng 11/2004), thành lập phòng Tin học và Thống kê tài chính (tháng 10/2005). Bộ máy các phòng ban Sở Tài chính Hải Dương gồm 11 đơn vị sau:

         1- Phòng Tổ chức - Hành chính; 2- Phòng Tài chính - Hành chính sự nghiệp;        3- Phòng Tài chính - Đầu tư; 4- Phòng Kế hoạch ngân sách; 5- Phòng Quản lý Ngân sách xã; 6- Phòng Tin học và Thống kê tài chính; 7- Phòng Quản lý Giá - Công sản; 8-  Thanh tra Sở; 9- Chi cục Tài chính doanh nghiệp; 10- Trung Tâm Tư vấn và Dịch vụ Tài chính (Thành lập tháng 11/2004); 11- Công ty Xổ số kiến thiết Hải Dương.

 

  SỐ LIỆU THU, CHI NGÂN SÁCH THỜI KỲ 1997-2005

Đơn vị: triệu đồng

NỘI DUNG

1997

2000

2003

2005

1. Tổng thu ngân sách địa phương

517.631

714.740

1.629.924

2.823.722

Trong đó:

 

 

 

 

1.1. Thu từ kinh tế trung ương trên địa bàn

255.683

230.319

240.998

284.909

1.2. Thu từ kinh tế địa phương

155.345

180.649

361.343

718.436

- Thu từ kinh tế nhà nước

11.455

19.700

27.278

17.313

- Thuế tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh

21.032

24.832

44.672

86.408

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp

44.522

46.600

1.656

1.929

- Thuế thu nhập

3.414

4.334

5.019

5.792

- Các khoản thu còn lại

74.922

85.183

282.718

606.994

1.3. Thuế xuất nhập khẩu

97.147

104.680

431.072

679.190

1.4. Thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

9.456

12.808

82.780

725.051

1.5. Thu khác

 

186.284

513.731

416.136

* Trợ cấp từ Trung ương

 

252.909

667.078

1.334.745

2. Tổng chi ngân sách địa phương

382.287

640.948

1.142.494

 

2.236.984

2.1. Chi đầu tư phát triển

68.052

121.240

293.944

983.163

2.2. Chi thường xuyên

314.235

507.352

812.121

1.216.988

- Chi quản lý hành chính

39.503

65.988

102.997

318.736

- Chi sự nghiệp kinh tế

27.756

38.120

58.248

111.978

- Chi sự nghiệp xã hội

180.132

267.606

483.411

708.023

Trong đó: + Chi sự nghiệp giáo dục – đào tạo

125.508

192.373

349.088

486.885

                 + Chi sự nghiệp y tế

27.789

35.342

64.290

103.771

                 + Chi đảm bảo xã hội

10.023

16.836

34.438

59.777

- Chi thường xuyên khác

66.844

135.638

167.465

78.251

2.3. Chi khác

-

12.356

36.429

36.833

 

4- Giai đoạn 2005-2009:

Từ năm 2005 – 2009, kinh tế của tỉnh duy trì được mức tăng trưởng khá, đạt cao hơn mức tăng trưởng bình quân cả nước. Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình quân 9,7%/năm (Mục tiêu Đại hội (MT) tăng 11,5%, cả nước tăng 6,9%/năm, giai đoạn 2001 – 2005 tăng 10,8%/năm). Giá trị tăng thêm của khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng bình quân 2,6%/năm, công nghiệp – xây dựng tăng 11,5%/năm, dịch vụ tăng 11,6%/năm. Quy mô kinh tế của tỉnh được nâng lên đáng kể, đến năm 2010 quy mô kinh tế tỉnh (GDP theo giá thực tế) ước đạt 29.240 tỷ đồng, gấp 2,19 lần so với năm 2005.

  

 

 

 

Các đồng chí Lãnh đạo Bộ Tài chính và Lãnh đạo Tỉnh đến dự kỷ niệm

60 năm ngày thành lập ngành tài chính Việt Nam (1945-2005)

 

Gắn liền với tăng trưởng, cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục có bước chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; tăng tỷ trọng dịch vụ. Cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp, thuỷ sản – công nghiệp, xây dựng - dịch vụ chuyển dịch từ: 27,1% - 43,6% - 29,3% (năm 2005) sang 24,0% - 44,5% - 31,5% (dự kiến năm 2010) (MT: 19% - 48% - 33%). Cơ cấu nội bộ các khu vực kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành có khả năng tạo ra giá trị tăng thêm lớn.

- Tiềm lực ngân sách của địa phương ngày càng được củng cố, tăng dần tích luỹ đầu tư phát triển:

Để có nguồn đáp ứng được mục tiêu đề ra trong văn kiện Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV, mức chi ngân sách hàng năm đã tăng trên 14,7%. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 15.498 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt: 12.690 tỷ đồng. Bình quân thu ngân sách nhà nước: 3.875 tỷ/năm, thu nội địa bình quân đạt: 3.172 tỷ/năm. Tốc độ tăng thu bình quân đạt 14,8%/năm (trong đó thu nội địa tăng trưởng bình quân 19,7%/năm), qua đó thể hiện nỗ lực của ngành tài chính địa phương trong việc tìm tòi và bồi dưỡng nguồn thu qua các năm, góp phần làm gia tăng quy mô ngân sách, đảm bảo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch 2006-2010. Cơ cầu thu Ngân sách Nhà nước đã từng bước vững chắc hơn, thu nội địa tăng lên không ngừng làm giảm tỷ trọng thu bổ sung từ trung ương.

Tổng chi ngân sách 5 năm 2005 - 2009: 16.831 tỷ, bình quân 4.207 tỷ/năm. Năm 2009, tổng chi ngân sách địa phương đã tăng gấp 1,73 lần năm 2005, gấp 7,3 lần năm 2000, đáp ứng nhu cầu bảo đảm hoạt động cho bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể và  phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Chi thường xuyên đạt: 8.695 tỷ đồng, bình quân năm: 2.174 tỷ đồng, trong đó tiền lương chiếm 38% trong chi thường xuyên. Xu hướng chi thường xuyên tăng về số tuyệt đối và ưu tiên cho giáo dục, khoa học, y tế, văn hoá thể thao. Tỷ trọng chi thường xuyên ngày càng giảm trong tổng chi ngân sách địa phương, đặc biệt là chi hành chính với các giải pháp thực hiện tiết kiệm.

Một số nhiệm vụ chi quan trọng đạt mục tiêu đề ra như: chi giáo dục đào tạo luôn được giữ ở trên mức 40% tổng chi ngân sách địa phương, các khoản chi sự nghiệp y tế, văn hoá đảm bảo xã hội được bố trí tăng, chi khoa học công nghệ và môi trường đạt bình quân trên 1% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng nhanh về tỷ trọng trong tổng chi ngân sách. Nhìn chung, quy mô ngân sách Nhà nước tăng  tạo nguồn ngân sách địa phương đảm bảo các hoạt động quản lý hành chính Nhà nước, tăng chi cho đầu tư phát triển phát triển, chi sự nghiệp giáo dục và phát triển con người, chi khoa học công nghệ, chú trọng chi đào tạo, hỗ trợ giải quyết việc làm, chăm lo cho đời sống của các gia đình chính sách, dành nguồn kinh phí cần thiết để thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống văn hóa xã hội, giảm tỷ lệ sinh...

- Cơ cấu phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng giảm bao cấp từ ngân sách, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội quan trọng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc.

Tỉnh đã tích cực thực hiện chủ trương tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng từ quỹ đất, số thu từ tiền sử dụng đất đã được đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, nông thôn, hạ tầng khu công nghiệp; Ngành tài chính phối hợp với các ngành chức năng tham mưu cho UBND tỉnh có chính sách thu hút đầu tư, cơ chế tạo vốn từ quỹ đất để thực hiện các đề án: Đến nay đã cơ bản hoàn thành hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới phía đông thành phố Hải Dương, tiếp tục thi công hạ tầng khu du lịch thương mại phía tây thành phố Hải Dương, hạ tầng các khu công nghiệp: Đại An, Nam Sách, Phúc Điền,....

Cơ cấu nguồn vốn chuyển dịch tích cực theo hướng nâng dần tỷ trọng vốn của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, phản ánh khả năng huy động đa dạng các nguồn vốn cho đầu tư phát triển.

Tổng vốn đầu tư 5 năm 2006 - 2010 ước đạt 20.376 tỷ đồng, tăng bình quân 29,9%/năm. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng mạnh, ước đạt 19.523 tỷ đồng (tương đương 1,22 tỷ USD), tăng bình quân 29,9%/năm; đã cấp giấy phép đầu tư cho 133 dự án với vốn đầu tư đăng ký 1 tỷ 670,5 triệu USD. Vốn ODA đạt 821 tỷ đồng, vốn viện trợ phi chính phủ (NGO) đạt 32 tỷ đồng.

 

 

 

Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – nguyên Bộ Trưởng
Bộ Tài chính phát biểu tại hội nghị

 

Giai đoạn 2006 – 2010 vốn đầu tư vào khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản ước đạt 5.530 tỷ đồng, chiếm 7,8% tổng vốn đầu tư xã hội, tăng bình quân 15,9%/năm; đầu tư vào khu vực công nghiệp, giao thông, xây dựng 38.090 tỷ đồng, chiếm 53,9%, tăng bình quân 26,1%/năm; vào khu vực dịch vụ 27.110 tỷ đồng, chiếm 38,3%, tăng bình quân 24,3%/năm.

Vốn đầu tư của nhà nước tiếp tục giữ vai trò chính trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, phúc lợi công cộng. Hệ thống kết cấu hạ tầng nói chung, trong đó hạ tầng khu vực nông thôn được cải thiện rõ rệt. Tỉnh đã thực hiện hàng loạt các đề án phát triển hạ tầng khu vực nông thôn, làm cho bộ mặt nông thôn thực sự đổi mới.

Trong 5 năm từ năm 2005 đến 2009 ngân sách tỉnh đã hỗ trợ xây dựng được  1.317 km đường giao thông nông thôn bê tông gía trị: 550 tỷ đồng, số tiền hỗ trợ từ ngân sách tỉnh 110 tỷ đồng; xây dựng: 4.019 phòng học, tổng kinh phí đầu tư 600 tỷ đồng, trong đó số tiền hỗ trợ từ ngân sách tỉnh 100,5 tỷ đồng; đầu tư hỗ trợ 60 xã xây dựng trụ sở xã, mỗi trụ sở 1 tỷ đồng; hỗ trợ xây dựng, cải tạo và mua sắm trang thiết bị cho 1.197 nhà văn hoá, số tiền hỗ trợ 65 tỷ đồng; hỗ trợ xây dựng được 196 trạm y tế chuẩn với kinh phí đầu tư xây dựng 160 tỷ đồng, Trong đó số tiền hỗ trợ từ ngân sách tỉnh 29 tỷ đồng; thực hiện kiên cố hoá được 628,9 km kênh cấp III với tổng kinh phí thực hiện 253,4 tỷ đồng, trong đó kinh phí ngân sách tỉnh  hỗ trợ là  126,8 tỷ đồng...

 

 

 

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh đón nhận Kỷ niệm

chương vì sự nghiệp Tài chính

- Giải phóng, khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo hoạt động tài chính thông thoáng, chất lượng và hiệu quả:

Trong những năm qua, Hải Dương đã tích cực thực hiện chủ trương khoán biên chế và quản lý hành chính, đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước, mở rộng quyền tự chủ các các cơ quan sự nghiệp trong việc quản lý sử dụng biên chế và kinh phí được giao. Việc thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành các nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng hiện có về lao động, kỹ thuật, công nghệ, máy móc thiết bị và phương tiện cung cấp dịch vụ cho xã hội để tăng nguồn thu; từng bước tăng thu nhập cho người lao động. Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, tạo cơ chế tài chính thông thoáng cho các đơn vị tham gia cung ứng thêm dịch vụ với chất lượng ngày càng cao cho xã hội; huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội, của mọi tầng lớp dân cư cùng với ngân sách nhà nước để chăm lo cho các đơn vị công ngày càng phát triển. Qua quá trình thực hiện, các đơn vị sự nghiệp có thu đã chủ động khai thác nguồn thu; kết quả thu năm sau cao hơn năm trước; thu nhập tăng thêm bình quân 10-15%.

Trong lĩnh vực ngân sách và phân cấp quản lý ngân sách, từ năm 2004 đã chuyển sang quy trình chi ngân sách mới theo hướng giảm thủ tục hành chính trung gian, tăng quyền hạn và trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Quá trình thực hiện ở tỉnh Hải Dương cho thấy, với phương thức này, cơ quan tài chính các cấp, cơ quan chủ quản được giải phóng khỏi nhiều công việc sự vụ không cần thiết như lập hạn mức, thông báo và phân phối hạn mức để tập trung vào việc hướng dẫn chính sách chế độ và quan trọng nhất là đi sâu vào công tác kiểm tra.

Tăng cường phối hợp với các cấp các ngành xử lý kịp thời các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư để đẩy nhanh triển khai công tác xây dựng cơ bản hiệu quả. Công tác quản lý tài chính đầu tư đã góp phần tiết kiệm ngân sách trong đầu tư, chống thất thoát lãng phí, tiêu cực trong quá trình xây dựng cơ bản, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng của địa phương.

- Quản lý tài chính trong lĩnh vực sự nghiệp và tài sản công hướng tới tăng cường khai thác và huy động các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế xã hội.

Thực hiện đổi mới công tác quản lý đầu tư xây dựng trụ sở làm việc và rà soát lại tình hình quản lý, sử dụng quỹ đất hiện có của nhà nước, đề xuất các phương án bố trí, sắp xếp lại nhà đất thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp. Từng bước tham mưu gắn tiêu chuẩn định mức sử dụng về diện tích nhà làm việc phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị trong quá trình thẩm định dự án. Tham mưu cho lãnh đạo tỉnh ban hành quy chế quản lý nhà nước về giá trên địa bàn, phương án giá các loại đất trên địa bàn tỉnh, quy định về việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, phương án thu mức phí thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh.

 

 

Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân – Nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Hải Dương phát biểu tại Lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành Tài chính Việt Nam

 

*Tổ chức bộ máy các phòng ban Sở Tài chính Hải Dương giai đoạn 2005 đến 2010:

Giai đoạn này có một số thay đổi: Công ty Xổ số Kiến thiết được chuyển thành Công ty TNHH 1 thành viên Xổ số Kiến thiết trực thuộc UBND tỉnh (từ 01/01/2008). Năm 2010 Phòng Tổ chức – Hành chính được kiện toàn thành Văn phòng Sở, giải thể Chi Cục Tài chính Doanh nghiệp chuyển thành Phòng Tài chính Doanh nghiệp. Tổ chức bộ máy các phòng ban Sở Tài chính Hải Dương gồm 10 đơn vị:

         1. Văn phòng sở; 2. Phòng  Tài chính - Hành chính sự nghiệp; 3. Phòng Tài chính - Đầu tư; 4. Phòng Kế hoạch ngân sách;  5. Phòng Quản lý ngân sách xã; 6. Phòng Tin học và Thống kê tài chính; 7. Phòng Quản lý Giá - Công sản;  8. Thanh tra Sở; 9. Phòng Tài chính doanh nghiệp; 10. Trung Tâm Tư vấn và Dịch vụ Tài chính.

 

 

 

                  Các đồng chí lãnh đạo Sở Tài chính đón nhận
 Huân chương Lao động Hạng Nhất  

 

Số liệu thu chi ngân sách thời kỳ 2006-2010

Đơn vị: tỷ đồng

NỘI DUNG

2006

2007

2008

2009

Tổng thu Ngân sách địa phương

2.364,2

2.980,5

3.567,4

4.179,0

Trong đó: 

 

 

 

 

I. Tổng thu nội địa

1.838,5

2.509,1

3.060,2

3.616,4

- Thu từ DNNN trung ương

519,3

733,5

735,8

823,0

- Thu từ DNNN địa phương

19,0

22,0

22,5

34,1

- Thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài

607,0

859,9

1.145,6

1.234,4

- Thu từ khu vực ngoài quốc doanh

108,0

182,6

244,8

,3

- Thu tiền sử dụng đất

286,3

341,4

376,3

502,8

- Phí xăng dầu

49,2

39,9

45,8

76,4

- Các khoản thu còn lại

249,7

329,8

489,4

639,8

II. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu

525,7

471,4

507,2

626,1

 

 

 

 

 

Tổng chi Ngân sách địa phương

2.260,5

2.580,93

3.351,13

4.108.63

Trong đó:

 

 

 

 

1. Chi đầu tư phát triển

820,2

794,2

982,7

996,8

2. Chi thường xuyên

1.395,5

1.621,4

2.014,9

2.492,4

- Chi sự nghiệp kinh tế

110,8

140,8

171,3

349,5

- Chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo

635,6

780,8

947,0

1.090,2

- Chi sự nghiệp y tế

152,9

178,0

209,9

211,6

- Chi sự nghiệp đảm bảo xã hội

64,1

76,7

86,8

119,4

- Chi quản lý hành chính

275,1

312,1

422,8

466,7

- Chi các sự nghiệp còn lại và khác

143,2

118,6

142,3

180,5

- Chi chương trình mục tiêu địa phương

13,8

14,4

34,8

36,3

3.Chi chương trình mục tiêu Trung ương

43,5

164,1

352,3

618,2

4.Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính

1,3

1,23

1,23

1,23

 

B- KẾT QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG VÀ THỰC HIỆN PHONG TRÀO THI ĐUA NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

* Công tác đào tạo - bồi dưỡng

Trong 65 năm qua công tác bồi dưỡng đào tạo cán bộ đã được ngành tài chính quan tâm chăm lo: Ngành cử nhiều lớp cán bộ đi đào tạo lý luận chính trị cao cấp, cử nhân chính trị, quản lý kinh tế, quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ Sở và cán bộ của các đơn vị trực thuộc. Tổ chức nhiều lớp tập huấn, đào tạo, phổ biến các lĩnh vực chuyên môn, các chế độ chính sách pháp luật trong công tác quản lý tài chính ngân sách nhằm góp phần nâng cao năng lực cho các cán bộ làm công tác quản lý nhà nước và công tác chuyên môn.

Toàn ngành đã bồi dưỡng, đào tạo và xây dựng được đội ngũ nòng cốt quản lý ngành, quản lý doanh nghiệp và cung cấp nguồn cho Trung ương, tỉnh và các ngành địa phương trong tỉnh. Riêng cơ quan Sở đến nay đã có đội ngũ cán bộ trình độ cao gồm: 02 tiến sỹ, 10 thạc sỹ, 7 đồng chí đang theo học cao học, 14 đồng chí trình độ cử nhân, lý luận chính trị cao cấp, 69 đồng chí cử nhân kinh tế.

* Kết quả thực hiện các phong trào thi đua:

65 năm qua, cán bộ công nhân viên chức lao động ngành Tài chính tỉnh Hải Dương không ngừng nỗ lực trong suốt quá trình phát triển. Trong từng thời kỳ, ngành tài chính đều đã có phong trào thi đua lao động sản xuất thiết thực như: "làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt", "quản lý giỏi", "giỏi việc nước đảm việc nhà", “Hũ gạo nuôi quân”, “Mùa đông binh sĩ”... Toàn ngành đã tổ chức nhiều năm liên tục thi đấu thể thao và liên hoan văn nghệ truyền thống.

Với những đóng góp cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của quê hương, nhiều tập thể và cá nhân trong ngành đã được khen tặng nhiều danh hiệu thi đua cao quý:

- Được Nhà nước tặng 1 Huân chương Lao động Hạng nhất năm 2005, 1 Huân chương Lao động Hạng Nhì năm 2001, 1 Huân chương lao động Hạng Ba.

-  Cờ thi đua các năm:

+ Cờ thi đua của UBND tỉnh năm 1995, 2004

+ Cờ thi đua của Tỉnh uỷ-UBND-HĐND tỉnh 1995, 2000

+ Cờ thi đua của Ban vật giá Chính phủ năm 1998

+ Cờ thi đua của Bộ Tài chính năm 2005

+ Cờ thi đua của Ban chấp hành (BCH) Liên Đoàn Lao Động tỉnh năm 2006.

+ Cờ thi đua của Công đoàn viên chức tỉnh năm 2006, 2007

- Bằng khen, giấy khen các năm:

+ Bằng khen của Bộ Tài chính các năm: 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009.

+ Bằng khen của UBND tỉnh các năm: 1990, 1992, 1998, 1999, 2001, 2003, 2004, 2005, 2007, 2008.

+ Bằng khen của Đảng uỷ Các cơ quan tỉnh các năm: 1992, 1993, 1994, 2000, 2005.

+ Bằng khen của BCH Công đoàn viên chức tỉnh năm 2008.

+ Bằng công nhận cơ quan văn hoá năm 2008.

+ Bằng khen của BCH Thanh niên tỉnh năm: 1998.

+ Giấy khen của BCH Thanh niên tỉnh các năm:1995, 2001, 2002

+ Giấy khen của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh các năm: 2004, 2006

- Có hàng trăm lượt người được công nhận là chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, nhiều người được công nhận là chiến sỹ thi đua cấp tỉnh, trên 10 tổ lao động XHCN, tổ lao động giỏi.

Đạt được những thành quả trên là do ngành Tài chính Hải Dương được sự chỉ đạo sát sao của Bộ Tài chính và các Bộ, ngành Trung ương, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh Hải Dương, sự tham gia, phối hợp và giúp đỡ tận tình của các Sở, Ban, ngành, địa phương trong tỉnh, cùng với sự nỗ lực cố gắng công tác, học tập và lao động của các thế hệ cán bộ công chức viên chức toàn ngành trong 65 năm qua, đó là những nhân tố tạo ra sức mạnh, sự thuận lợi cần thiết để ngành Tài chính hoàn thành tốt nhiệm vụ, trưởng thành và phát triển như ngày hôm nay.

 

MỘT SỐ THÀNH TÍCH TIÊU BIỂU

NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

 

Tin mới
Liên Kết Website




Lượt truy cập
245029